Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người lao động
  (Cập nhật: 6/12/2014)

THỜI GIỜ LÀM VIỆC, THỜI  GIỜ NGHỈ NGƠI

CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG

 

     Quyền làm việc  và quyền nghỉ ngơi là một trong những quyền rất cơ bản của con người, trước hết là người lao động trong quan hệ lao động, phải được pháp luật can thiệp, bảo vệ.  Điều 35 của Hiến pháp nước CHXHCN Việt nam ghi nhận quyền này : “1. Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc; 2. Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi ...”.

     Pháp luật lao động quy định về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi, tạo hành lang pháp lý nhằm bảo vệ sức khỏe người lao động trong quan hệ lao động  để làm việc được lâu dài, có lợi cho cả hai bên, đảm bảo có một tỷ số hợp lý giữa hai loại thời giờ này, có tính đến lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, vừa không thiệt hại cho sản xuất kinh doanh, vừa không làm giảm sút khả năng lao động, khả năng sáng tạo của người lao động, suy cho cùng là nhằm bảo vệ việc làm, tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả của lao động, hướng vào chiến lược con người.

     Bộ luật lao động năm 2012 đã giành 14 điều (từ Điều 104 đến Điều 117) để quy định về thời giờ làm viêc, thời giờ nghỉ ngơi. Sau đây là những vấn đề cơ bản cần quan tâm của cả người lao động và người sử dụng lao động.

     Thứ nhất -  thời giờ làm việc:  là độ dài thời gian mà người lao động phải tiến hành lao động theo quy định của pháp luật, theo thỏa ước lao động tập thể hoặc theo hợp đồng lao động. Thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ trong 1 ngày và 48 giờ trong 1 tuần. Người sử dụng lao động có quyền quy định làm việc theo giờ hoặc ngày hoặc tuần; trường hợp theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong 1 ngày, nhưng không quá 48 giờ trong 1 tuần. Thời giờ làm việc không quá 06 giờ trong 01 ngày đối với những người làm các công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành.

     Tuy nhiên cũng cần lưu ý, đó là có một số khoảng thời gian thực tế người lao động không làm việc hoặc thực hiện một hoạt động khác nhưng vẫn được tính là thời giờ làm việc để được hưởng lương, bao gồm:

     1.  Nghỉ trong giờ làm việc: đó là khi người lao động làm việc theo ca 8 giờ liên tục trong điều kiện bình thường hoặc 6 giờ trong trường hợp được rút ngắn sẽ được nghỉ giữa ca ít nhất 30 phút tính vào giờ làm việc. Ngoài ra khi người lao động làm việc trong ngày từ 10 giờ trở lên  kể cả số giờ làm thêm thì được nghỉ thêm ít nhất 30 phút tính vào giờ làm việc.

     2. Nghỉ giải lao theo tính chất của công việc.

     3. Nghỉ cần thiết trong quá trình lao động đã được tính trong định mức lao động cho nhu cầu sinh lý tự nhiên của con người.

     4. Thời giờ nghỉ mỗi ngày 60 phút đối với lao động nữ nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

     5. Nghỉ mỗi ngày 30 phút đối với lao động nữ trong thời gian hành kinh.

     6. Thời giờ phải ngừng việc không do lỗi của người lao động.

     7. Thời giờ học tập, huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động.

     8. Thời giờ hội họp, học tập, tập huấn do yêu cầu của người sử dụng lao động hoặc được người sử dụng lao động đồng ý.

     9. Thời giờ hội họp, học tập, tập huấn do công đoàn cấp trên triệu tập cán bộ công đoàn không chuyên trách theo quy định của pháp luật về công đoàn.

     10. Thời giờ làm việc được rút ngắn mỗi ngày ít nhất 01 giờ đối với người lao động cao tuổi trong năm cuối cùng trước khi nghỉ hưu.

     Thứ hai  -  làm thêm giờ:  Đó là khi người sử dụng lao động có yêu cầu và được sự đồng ý của người lao động thì hai bên tiến hành thỏa thuận làm thêm giờ. Đây là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường được quy định trong pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc theo nội quy lao động. Việc thỏa thuận làm thêm giờ còn phải bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày, trường hợp làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc trong ngày (gồm  số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm) không quá 12 giờ; không quá 30 giờ làm thêm trong 01 tháng và tổng số không quá 200 giờ trong 01 năm. Người sử dụng lao động phải bảo đảm tiền lương cho người lao động làm thêm giờ theo quy định của pháp luật (Điều 97 – Bộ luật lao động).

     Tuy nhiên, ở một số lĩnh vực  được  tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 trong một năm  gồm các trường hợp sau :

     - Sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm là hàng dệt, may, da, giày, chế biến nông, lâm, thủy sản.

     - Sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước.

     - Các trường hợp khác phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn.

Khi tổ chức làm thêm giờ, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về lao động tại địa phương.

     Thứ ba - thời giờ nghỉ ngơi:

     Con người lao động đến một mức nào đó thì cảm giác mệt mỏi sinh lý bắt đầu xuất hiện. Đó là một cơ chế bảo vệ, như cái phanh, bắt cơ thể ngừng hoạt động để khỏi kiệt sức. Để có thể làm việc hiệu quả, người lao động phải có thời gian nhất định giành cho nghỉ ngơi, đó chính là giai đoạn mà người lao động tái sản xuất sức lao động.

     Trong quan hệ lao động, thời giờ nghỉ ngơi là độ dài thời gian mà người lao động được tự do sử dụng ngoài nghĩa vụ lao động thực hiện trong giờ làm việc.

     Những quy định cơ bản về thời giờ nghỉ ngơi cần được người lao động và người sử dụng lao động quan tâm, bao gồm:

     1. Nghỉ  trong giờ làm việc:  Khi người lao động làm việc theo ca (8 giờ hoặc 6 giờ liên tục) được nghỉ giữa giờ ít nhất 30 phút, tính vào giờ làm việc. Nếu làm việc ban đêm thì thời gian nghỉ giữa giờ ít nhất 45 phút. Ngoài ra, người sử dụng  lao động quy định thời điểm các đợt nghỉ ngắn và ghi vào nội quy lao động.

      Ngoài thời giờ nghỉ ngơi trong ca làm việc bình thường như trên, người lao động làm việc trong ngày từ 10 giờ trở lên kể cả số giờ làm thêm thì được nghỉ thêm ít nhất 30 phút tính vào giờ làm việc.

     2. Nghỉ hằng năm: Người lao động có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động  như sau : 12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường, 14 ngày làm việc đối với người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; 16 ngày làm việc đối với người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Số ngày nghỉ hằng năm sẽ được tăng thêm theo thâm niên làm việc, cứ 5 năm làm việc cho một người sử dụng lao động thì người lao động sẽ được cộng thêm 01 ngày nghỉ hằng năm.

     Tuy nhiên cũng cần lưu ý  những khoảng thời gian được coi là thời gian làm việc của người lao động  để tính số ngày nghỉ hằng năm, bao gồm :

     1. Thời gian học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động theo cam kết trong hợp động học nghề, tập nghề.

     2. Thời gian thử việc theo hợp đồng lao động sau đó làm việc cho người sử dụng lao động.

     3. Thời gian nghỉ việc riêng có hưởng lương theo Khoản 1 Điều 116 của Bộ luật Lao động.

     4. Thời gian nghỉ việc không hưởng lương nếu được người sử dụng lao động đồng ý nhưng cộng dồn không quá 01 tháng.

     5. Thời gian nghỉ do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp nhưng cộng dồn không quá 6 tháng.

     6. Thời gian nghỉ do ốm đau nhưng cộng dồn không quá 02 tháng.

     7. Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

     8. Thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn.

     9. Thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động.

     10. Thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc.

     11. Thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội.

     Trường hợp người lao động làm không đủ năm, cách tính số ngày nghỉ hằng năm được tính như sau :  lấy số ngày nghỉ hằng năm cộng với số ngày nghỉ tăng thêm theo thâm niên (nếu có), chia cho 12 tháng, nhân với số tháng làm việc thực tế trong năm để tính thành số ngày được nghỉ hằng năm; kết quả phép tính lấy tròn số hàng đơn vị, nếu phần thập phân lớn hơn hoặc bằng 0,5 thì làm tron lên 01 đơn vị.

     3. Nghỉ lễ, tết : Theo quy định tại Khoản 1 Điều 115 của Bộ luật lao động thì người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương trong những ngày lễ, tết là 10 ngày trong năm:

     - Tết Dương lịch: 1 ngày

     - Tết Âm lịch:  5 ngày

     - Ngày Chiến thắng (30/4):  1 ngày

     - Ngày Quốc tế lao động (01/5):  1 ngày

     - Ngày Quốc khánh (02/9):  1 ngày

     - Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 ÂL):  1 ngày

     Thời gian nghỉ Tết Âm lịch là 5 ngày và do người sử dụng lao động lựa chọn 01 ngày cuối năm và 04 ngày đầu năm âm lịch hoặc 02 ngày cuối năm và 03 ngày đầu năm âm lịch. Người sử dụng lao động có trách nhiệm thông báo phương án nghỉ Tết Âm lịch cho người lao động trước khi thực hiện ít nhất 30 ngày.

     Trên đây là những quy định cơ bản  và  cũng bao gồm một số điểm mới  của Bộ luật lao động năm 2012 về  thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi. Việc quy định chế độ thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi có ý nghĩa rất quan trọng, cụ thể:

     - Là căn cứ để mỗi doanh nghiệp xác định sát và đúng chi phí nhân công, tổng mức tiền lương phải chi trả cho người lao động theo các trường hợp làm việc và nghỉ ngơi khác nhau.

     - Người lao động biết rõ chế độ thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi sẽ chủ động bố trí quỹ thời gian cá nhân hàng ngày, hàng tuần, hàng năm, từ đó càng tự giác tuân thủ kỷ luật và nội quy lao động của doanh nghiệp.

     - Chế độ thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi là căn cứ pháp lý để thanh tra lao động nói riêng và cơ quan phụ trách quản lý lao động nói chung làm chức năng bảo vệ việc thực hiện pháp luật lao động nghiêm minh, hướng dẫn tổ chức lao động hợp lý  cho các nơi sử dụng lao động.

                                                                                                              Giảng viên: Bùi Thị Thanh Thủy



Tin khác


Một số đổi mới quan trọng của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Cơ sở pháp lí khẳng định chủ quyền biển đảo Việt Nam

Tìm hiểu về chế độ bảo hiểm thất nghiệp

Giải quyết tranh chấp về chấm dứt hợp đồng lao động do người sử dụng lao động

Bình đẳng giới trong pháp luật Việt Nam

Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người lao động

Công đoàn và vai trò của tổ chức công đoàn trong quan hệ lao động

Ngày Quốc tế Hạnh phúc 20/3/2014

Luật Xử lý vi phạm hành chính - bước phát triển mới trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật VN

ĐỐI TÁC
THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cập: 19


Tuyển sinh