Bình đẳng giới trong pháp luật Việt Nam
  (Cập nhật: 6/19/2014)

Phụ nữ là một nửa nhân loại; là lực lượng lao động quan trọng góp phần phát triển kinh tế - xã hội và thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội. Trong tác phẩm “Đường Kách mệnh” Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào, thì chắc không làm nổi. Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái, thì biết xã hội tiến bộ ra thế nào?” Người cũng dẫn lời của  V.I.Lênin “Đảng cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu ăn cũng biết làm việc nước, như thế cách mệnh mới gọi là thành công”, (Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tập 2).

 

     Bản Luận cương năm 1930 - cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam - đã khẳng định mục tiêu đấu tranh cho nam nữ bình quyền. Cùng năm đó, Hội Phụ nữ cứu quốc (tiền thân của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam) đã được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành lập, trở thành một trong những tổ chức xã hội uy tín của phụ nữ.

 

     Từ khi giành được độc lập (1945), việc bảo đảm quyền bình đẳng nam nữ và giải phóng phụ nữ luôn là chính sách nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam, được thể chế hóa trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta. Ngay trong Sắc lệnh số 14, ngày 18/9/1945 - một trong những văn bản pháp luật đầu tiên của nhà nước Việt Nam mới, đã quy định quyền bình đẳng của phụ nữ trong vấn đề bầu cử. Hiến pháp năm 1946 khẳng định nguyên tắc bình đẳng nam nữ trên tất cả các lĩnh vực khi quy định: "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện" (Điều 9); "Mọi công dân đều bình đẳng về quyền trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa" (Điều 6) và "Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật" (Điều 7)...

 

     Những quy định kể trên đã đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại về địa vị pháp lý của phụ nữ Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử, phụ nữ Việt Nam được pháp luật thừa nhận và bảo đảm có những quyền bình đẳng với nam giới trên tất cả các lĩnh vực. Những quy định đó cũng cho thấy tính chất tiến bộ của pháp luật Việt Nam trên lĩnh vực này. Bình đẳng nam nữ (trên tất cả các phương diện) được khẳng định ngay từ Hiến pháp năm 1946, khi nước Việt Nam mới được thành lập. Các Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và 2013 của nước ta đã kế thừa những nguyên tắc tiến bộ của Hiến pháp năm 1946 và liên tục bổ sung những nội dung mới nhằm bảo đảm và thúc đẩy hơn nữa vị thế, việc hưởng thụ các quyền con người của phụ nữ. Không những vậy, rất nhiều đạo luật quan trọng như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Lao động, Luật Hôn nhân - Gia đình, Luật Bình đẳng giới… cũng được Nhà nước ban hành và sửa đổi, bổ sung qua các thời kỳ, nhằm cụ thể hóa các nguyên tắc về bình đẳng nam nữ trong Hiến pháp. 

           

     Và đặc biệt tháng 11 năm 2006, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam đã thông qua Luật bình đẳng giới (gồm 6 chương và 44 điều) thể hiện rõ sự cam kết của Việt Nam trong thúc đẩy bình đẳng giới và coi đó là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội đất nước. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức và thực hiện bình đẳng giới trong các lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội bởi vì bên cạnh việc đưa ra các mục tiêu, chính sách bình đẳng giới, Luật bình đẳng giới còn nêu rõ những hành vi nào là vi phạm luật bình đẳng giới, các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới và việc thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới. Trong phạm vi bài viết này tôi xin giới thiệu quy định của pháp luật về các hành vi vi phạm pháp luật (VPPL) về bình đẳng giới.

     Theo Điều 40, 41 Luật bình đẳng giới:

1. Các hành vi VPPL về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bao gồm:

     a) Cản trở việc nam hoặc nữ tự ứng cử, được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp vì định kiến giới;

     b)Không thực hiện hoặc cản trở việc bổ nhiệm nam, nữ vào cương vị quản lý, lãnh đạo hoặc các chức danh chuyên môn vì định kiến giới;

     c) Đặt ra và thực hiện quy định có sự phân biệt đối xử về giới trong các hương ước, quy ước của cộng đồng hoặc trong quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức.

2. Các hành vi VPPL về bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế bao gồm:

     a) Cản trở nam hoặc nữ thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động kinh doanh vì định kiến giới;

     b) Tiến hành quảng cáo thương mại gây bất lợi cho các chủ doanh nghiệp, thương nhân của một giới nhất định.

3. Các hành vi VPPL về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động bao gồm:

     a) Áp dụng các điều kiện khác nhau trong tuyển dụng lao động nam và lao động nữ đối với cùng một công việc mà nam, nữ đều có trình độ và khả năng thực hiện như nhau, trừ trường hợp áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới;

     b) Từ chối tuyển dụng hoặc tuyển dụng hạn chế lao động, sa thải hoặc cho thôi việc người lao động vì lý do giới tính hoặc do việc mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ;

     c) Phân công công việc mang tính phân biệt đối xử giữa nam và nữ dẫn đến chênh lệch về thu nhập hoặc áp dụng mức trả lương khác nhau cho những người lao động có cùng trình độ, năng lực vì lý do giới tính;

     d) Không thực hiện các quy định của pháp luật lao động quy định riêng đối với lao động nữ.

4. Các hành vi VPPL về bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo bao gồm:

     a) Quy định tuổi đào tạo, tuổi tuyển sinh khác nhau giữa nam và nữ;

     b) Vận động hoặc ép buộc người khác nghỉ học vì lý do giới tính;

     c) Từ chối tuyển sinh những người có đủ điều kiện vào các khóa đào tạo, bồi dưỡng vì lý do giới tính hoặc do việc mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ;

     d) Giáo dục hướng nghiệp, biên soạn và phổ biến sách giáo khoa có định kiến giới.

5. Các hành vi VPPL về bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ bao gồm:

     a) Cản trở nam, nữ tham gia hoạt động khoa học, công nghệ;

     b) Từ chối việc tham gia của một giới trong các khoá đào tạo về khoa học và công nghệ.

6. Các hành vi VPPL về bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao:

     a) Cản trở nam, nữ sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật, biểu diễn và tham gia các hoạt động văn hóa khác vì định kiến giới;

     b) Sáng tác, lưu hành, cho phép xuất bản các tác phẩm dưới bất kỳ thể loại và hình thức nào để cổ vũ, tuyên truyền bất bình đẳng giới, định kiến giới;

     c) Truyền bá tư tưởng, tự mình thực hiện hoặc xúi giục người khác thực hiện phong tục tập quán lạc hậu mang tính phân biệt đối xử về giới dưới mọi hình thức.

7. Các hành vi VPPL về bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế bao gồm:

     a) Cản trở, xúi giục hoặc ép buộc người khác không tham gia các hoạt động giáo dục sức khỏe vì định kiến giới;

     b) Lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức hoặc xúi giục, ép buộc người khác phá thai vì giới tính của thai nhi.

                                                                                                                                                         Giáo viên: Đặng Thu Huyền



Tin khác


Một số đổi mới quan trọng của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Cơ sở pháp lí khẳng định chủ quyền biển đảo Việt Nam

Tìm hiểu về chế độ bảo hiểm thất nghiệp

Giải quyết tranh chấp về chấm dứt hợp đồng lao động do người sử dụng lao động

Bình đẳng giới trong pháp luật Việt Nam

Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người lao động

Công đoàn và vai trò của tổ chức công đoàn trong quan hệ lao động

Ngày Quốc tế Hạnh phúc 20/3/2014

Luật Xử lý vi phạm hành chính - bước phát triển mới trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật VN

ĐỐI TÁC
THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cập: 27


Tuyển sinh