Một số đổi mới quan trọng của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
  (Cập nhật: 2/5/2015)

Kế thừa và phát huy thành tựu của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 và năm 1986 của nhà nước ta, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 ra đời đã góp phần  xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, ấm no hạnh phúc ở Việt Nam, bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là quyền của phụ nữ và trẻ em trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, tạo ra hành lang pháp lý góp phần thiết lập và bảo đảm sự an toàn cho các quan hệ tài sản phát sinh trong nội bộ các thành viên gia đình cũng như các giao dịch giữa các thành viên gia đình với các chủ thể khác trong xã hội; ghi nhận quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên sau 13 năm đi vào cuộc sống, trong bối cảnh đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới, cùng với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, các quan hệ hôn nhân và gia đình đã có những thay đổi đáng kể, vì vậy Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã bộc lộ một số điểm bất cập, hạn chế. Do đó, việc sửa đổi, bổ sung Luật này là yêu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tế các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Sau một thời gian tổ chức lấy ý kiến đóng góp của các địa phương và bộ ngành có liên quan và thông qua quá trình tiếp thu, chỉnh lý của cơ quan soạn thảo, ngày 19/6/2014, tại kỳ họp thứ 7 của Quốc hội khóa XIII Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi chính thức được thông qua và có hiệu lực từ 01/01/2015. Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có những điểm mới đáng chú ý sau:

1.     Nâng độ tuổi kết hôn

     Theo quy định tại Khoản 1, Điều 8 Luật HN&GĐ 2014 thì độ tuổi kết hôn là từ đủ 18 tuổi trở lên đối nữ và với nam là từ đủ 20 tuổi trở lên. Sở dĩ có việc thay đổi này là vì nếu quy định tuổi kết hôn của nữ là từ 18 tuổi như Luật HN&GĐ 2000 thì quy định này là không thống nhất với Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự. Đó là, theo Bộ luật Dân sự người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên, khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý… Còn theo Bộ luật Tố tụng dân sự thì đương sự là người từ đủ 18 tuổi trở lên mới có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. Như vậy, nếu cho phép người chưa đủ 18 tuổi kết hôn là không hợp lý, thiếu đồng bộ và làm hạn chế một số quyền của người nữ khi xác lập các giao dịch như quyền yêu cầu ly hôn thì phải có người đại diện.

2.     Pháp luật không cấm kết hôn đồng giới, không thừa nhận và bảo vệ kết hôn đồng giới.

     Về hôn nhân đồng giới, luật HNGĐ 2000 quy định cấm kết hôn đồng giới, và vì cấm nên đi kèm sẽ có chế tài, xử phạt. Nay, Luật HNGĐ 2014 bỏ quy định “cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính” nhưng quy định cụ thể “không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” (theo Khoản 2 Điều 8 Luật HNGĐ 2014). Như vậy những người đồng giới tính vẫn có thể kết hôn tuy nhiên sẽ không được pháp luật bảo vệ khi có tranh chấp xảy ra. Đây cũng được coi là một bước tiến nhỏ trong việc nhìn nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính của nhà nước ta trong tình hình xã hội hiện nay. Trên thế giới đã có 11 nước  cho phép và công nhận hôn nhân đồng giới gồm : Hà Lan, Bỉ, Tây Ban Nha, Canada, Nam Phi, Nauy, Thụy Điển, Bồ Đào Nha, Iceland, Argentina, Mexico. Kinh nghiệm một số nước trên thế giới cho thấy, vấn đề này nên được giải quyết theo lộ trình. Trước hết, Nhà nước thừa nhận quyền chung sống như vợ chồng của người đồng tính, sau đó mới có quy định thừa nhận hôn nhân giữa những người này. Ví dụ, Hà Lan quy định về việc đăng ký kết hợp dân sự giữa những người cùng giới tính vào năm 1998, nhưng đến năm 2001 mới thừa nhận chính thức hôn nhân hợp pháp giữa người cùng giới; Canada thừa nhận quyền chung sống của người đồng tính vào năm 1999, đến năm 2005 mới được thừa nhận quyền hôn nhân giữa họ với nhau... Ở Việt Nam, xuất phát từ quan niệm truyền thống cũng như thực tiễn dựng vợ, gả chồng của người Việt Nam hàng ngàn năm nay thì quan hệ vợ chồng phải là quan hệ tình cảm giữa hai người khác giới, tức là giữa nam và nữ, do đó, việc luật hóa hôn nhân giữa những người cùng giới tính đã được xem xét, cân nhắc và đặc biệt là phải có lộ trình, bước đi phù hợp. Với việc bỏ quy định “cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính - Luật Hôn nhân & gia đình 2000” thì  những người đồng giới vẫn có thể kết hôn, tuy nhiên sẽ không được pháp luật bảo vệ khi có tranh chấp xảy ra.

3.     Chính chức cho phép mang thai hộ

     Mang thai hộ đã xuất hiện từ lâu trên thế giới nhưng ở Việt Nam việc mang thai hộ bị cấm theo Nghị định số 12/2003/NĐ-CP của Chính phủ. Tuy nhiên Luật HNGĐ 2014 đã chính thức cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Theo quy định tại Điều 95 Luật HN&GĐ 2014 việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo chỉ được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên và được lập thành văn bản. Vợ chồng vì lý do nào đó không thể tự sinh con có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện, gồm: Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản; vợ chồng đang không có con chung; đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.. Người được nhờ mang thai hộ phải có đủ 5 điều kiện: Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ; đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần; ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ; trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng và đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

4.     Tài sản của vợ chồng khi kết hôn

     Luật Hôn nhân và gia đình 2000 quy định chưa rõ ràng về chế độ sở hữu của vợ chồng, thiếu cơ chế công khai minh bạch về tài sản chung, tài sản riêng, các quy định trước đây chủ yếu đề cập đến vấn đề đất đai, còn các tài sản khác như chứng khoán, tài sản trong doanh nghiệp thì chưa được đề cập tới, gây khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp. Nay, Điều 47 Luật HNGĐ 2014 quy định cụ thể: việc thỏa thuận phải được lập bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực trước khi kết hôn. Thỏa thuận này vẫn có thể được thay đổi sau khi kết hôn. Quy định này sẽ làm giảm thiểu sự tranh chấp tài sản sau ly hôn của các cặp vợ chồng trong tình hình hiện nay.

5.     Thêm đối tượng được yêu cầu giải quyết ly hôn

     Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cũng bổ sung thêm các đối tượng được yêu cầu giải quyết ly hôn. Theo đó, thay vì chỉ vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng mới có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn như trước đây thì từ ngày 1-1-2015, cha, mẹ, người thân thích khác cũng có thể yêu cầu giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ Chồng không có quyền ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng (theo Điều 51 Luật HN&GĐ 2014).

6.     Áp dụng tập quán trong hôn nhân và gia đình

     Về vấn đề này Luật HN&GĐ 2000 chỉ quy định “Vận động nhân dân xoá bỏ phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình, phát huy truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc; xây dựng quan hệ hôn nhân và gia đình tiến bộ”. Việc quy định chung chung  như vậy tạo nhiều kẽ hở, bất cập, gây khó khăn cho tòa án khi xét xử các vụ án về hôn nhân gia đình mà phải áp dụng các phong tục tập quán. Điều 7 Luật HNGĐ 2014 quy định cụ thể việc áp dụng tập quán trong hôn nhân gia đình, đó là: “chỉ được áp dụng tập quán trong trường hợp pháp luật không có quy định và các bên không có thỏa thuận nhưng không được trái với các nguyên tắc, vi phạm các điều cấm tại Luật này”.

Giáo viên: Đặng Thu Huyền



Tin khác


Một số đổi mới quan trọng của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Cơ sở pháp lí khẳng định chủ quyền biển đảo Việt Nam

Tìm hiểu về chế độ bảo hiểm thất nghiệp

Giải quyết tranh chấp về chấm dứt hợp đồng lao động do người sử dụng lao động

Bình đẳng giới trong pháp luật Việt Nam

Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người lao động

Công đoàn và vai trò của tổ chức công đoàn trong quan hệ lao động

Ngày Quốc tế Hạnh phúc 20/3/2014

Luật Xử lý vi phạm hành chính - bước phát triển mới trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật VN

ĐỐI TÁC
THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cập: 25


Tuyển sinh