Cơ sở pháp lí khẳng định chủ quyền biển đảo Việt Nam
  (Cập nhật: 8/14/2014)

CƠ SỞ PHÁP LÝ

KHẲNG ĐỊNH CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO VIỆT NAM

 

     Ngày 21/6/2012 Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thông qua Luật Biển Việt Nam bằng đa số tuyệt đối 99,8% số đại biểu ủng hộ.

     Với việc ban hành Luật Biển Việt Nam, lần đầu tiên chúng ta có một văn bản pháp lý tổng hợp có hiệu lực cao quy định một cách tổng thể các vấn đề liên quan đến biển, mà trước đây chúng ta mới chỉ có một số văn bản pháp luật quy định về một số khía cạnh liên quan đến biển như : Tuyên bố của Chính phủ năm 1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam; Tuyên bố của Chính phủ năm 1982 về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam; Nghị định số 30/CP của Chính phủ năm 1980 về quy chế cho các tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các vùng biển Việt Nam; Luật biên giới quốc gia năm 2003; Luật thủy sản năm 2003; Bộ luật Hàng hải năm 2005…

     Luật Biển Việt Nam năm 2012 có sự kế thừa, tiếp nối các quy định đã có trước đây (như khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa; đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải, phạm vi các vùng biển Việt Nam…) và đã bổ sung, sửa đổi nhiều nội dung cho phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế, nhất là Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), cũng như yêu cầu phát triển của đất nước.

     Việt Nam là một trong số 164 bên tham gia ký kết văn kiện pháp lý đa phương quan trọng – UNCLOS 1982  (United Nations Convention on the Law of the Sea). Pháp luật quốc gia của Việt Nam không thể trái với các quy định của UNCLOS 1982, vì vậy việc xây dựng và thông qua Luật Biển Việt Nam là nội luật hóa các quy định của UNCLOS 1982, là chuyển các quy phạm và nguyên tắc của luật biển quốc tế thành quy phạm và nguyên tắc pháp luật quốc gia của Việt Nam.

     Cũng như các đạo luật về biển của các nước ven biển khác, trọng tâm của Luật Biển Việt Nam là quy định về các vùng biển của Việt Nam (nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa) và các hải đảo.

     Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia bao gồm nội thủy và lãnh hải.

     1. Nội thủy là vùng nước tiếp giáp với bờ biển, ở phía trong đường cơ sở và là bộ phận lãnh thổ của Việt Nam, trong vùng nội thủy, nhà nước thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ đối với nội thủy như trên lãnh thổ đất liền. Chủ quyền này bao trùm lên cả vùng trời bên trên, vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển vùng nước nội thủy.

     Việc xác định đường cơ sở, theo UNCLOS 1982 ghi nhận hai phương pháp: đường cơ sở thông thường  đường cơ sở thẳng. Đường cơ sở thông thường là ngấn nước thủy triều thấp nhất dạy dọc theo bờ biển, được thể hiện trên các hải đồ tỉ lệ lớn đã được quốc gia ven biển chính thức công nhận, đó là ngấn giao nhau giữa bờ biển với mức thấp nhất của mặt nước biển. Tuy nhiên, nếu do địa hình thực tế của bờ biển không phù hợp với đường cơ sở thông thường thì quốc gia ven biển được phép  áp dụng phương pháp đường cơ sở thẳng, đó là đường gãy khúc nối liền các điểm được lựa chọn tại ngấn nước thủy triều thấp nhất dọc bờ biển và các đảo ven bờ hoặc giữa các điểm nhô ra xa nhất của các đảo ven bờ.

     Năm 1982, Chính phủ Việt Nam đã ra Tuyên bố xác định đường cơ sở từ Đảo Thổ Chu đến đảo Cồn Cỏ, gồm 10 đoạn thẳng gãy khúc nối giữa các điểm nhô ra xa nhất của các đảo ven bờ và bờ biển Việt Nam được xác định theo phương pháp “đường cơ sở thẳng” quy định trong UNCLOS 1982 và phù hợp với thực tiễn quốc tế. Một số khu vực hiện chưa có đường cơ sở như Vịnh Bắc Bộ và các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thì Chính phủ sẽ xác định và công bố sau khi có Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn.

     2. Lãnh hải của nước ta rộng 12 hải lý (mỗi hải lý bằng 1852m) kể từ đường cơ sở ra phía biển. Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam. Nhà nước ta thực hiện chủ quyền đối với lãnh hải Việt Nam, tuy nhiên tàu thuyền nước ngoài có quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải. Đối với tàu quân sự nước ngoài khi thực hiện quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam, thông báo trước cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. Việc đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài phải được thực hiện trên cơ sở tôn trọng hòa bình, độc lập, chủ quyền, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên.

     Các vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam gồmvùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

     1. Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, có chiều rộng 12 hải lý tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải. Vùng tiếp giáp lãnh hải đồng thời là một bộ phận của vùng đặc quyền kinh tế nên tại đây Việt Nam thực hiện quyền chủ quyền, quyền tài phán áp dụng đối với vùng đặc quyền kinh tế. Theo UNCLOS 1982, quốc gia ven biển còn có đặc quyền đối với các hiện vật lịch sử và khảo cổ nằm ở đáy biển vùng tiếp giáp lãnh hải. Việc khai thác, mua bán những hiện vật này mà không được sự cho phép của quốc gia ven biển được coi là sự vi phạm các luật và quy định của quốc gia ven biển ở trên lãnh thổ quốc gia.

     Nhà nước Việt Nam thực hiện kiểm soát trong vùng tiếp giáp lãnh hải nhằm ngăn ngừa và xử lý hành vi vi phạm pháp luật về hải quan, thuế, y tế, xuất nhập cảnh xảy ra trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam.

     2. Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, hợp với lãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Theo UNCLOS 1982, trong vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với thăm dò và khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế. Trong vùng đặc quyền kinh tế, tất cả các quốc gia, dù có biển hay không có biển, đều được hưởng ba quyền tự do cơ bản : quyền tự do hàng hải; quyền tự do hàng không; quyền tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm.

     Luật Biển Việt Nam cũng ghi nhận việc thực hiện các quyền và các hoạt động như: quyền tự do hàng hải, quyền tự do đặt dây cáp, ống dẫn ngầm, tự do hàng không và hoạt động sử dụng biển hợp pháp của các quốc gia khác trong vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam phải phù hợp với UNCLOS 1982, các điều ước quốc tế khác mà Việt Nam là thành viên và luật pháp của Việt Nam về biển.

     3. Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền, các đảo và quần đảo của Việt Nam cho đến mép ngoài của rìa lục địa. Trong trường hợp mép ngoài của rìa lục địa này cách đường cơ sở chưa đủ 200 hải lý thì thềm lục địa nơi đó được kéo dài đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Ở những khu vực mép ngoài cùng của rìa lục địa rộng hơn 200 hải lý, ta có quyền mở rộng thềm lục địa Việt Nam đến 350 hải lý theo các điều kiện và thủ tục UNCLOS 1982 quy định.

     Theo quy định của UNCLOS 1982, quốc gia ven biển thực hiện các quyền chủ quyềnđối với thềm lục địa về mặt thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình, cóquyền tài phán đối với các đảo nhân tạo, công trình, thiết bị trên thềm lục địa, quyền tài phán về nghiên cứu khoa học biển cũng như về bảo vệ và gìn giữ môi trường biển.

     Trên cơ sở UNCLOS 1982, Luật Biển Việt Nam cũng ghi nhận nhà nước ta thực hiện quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với thềm lục địa. Việc thực hiện các quyền và các hoạt động của các quốc gia khác trên thềm lục địa Việt Nam như: quyền đặt dây cáp, ống dẫn ngầm ... phải phù hợp với UNCLOS 1982, các điều ước quốc tế khác mà Việt Nam là thành viên và luật pháp của Việt Nam về biển.

     Chế độ pháp lý của đảo, quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam :

     Luật Biển Việt Nam khẳng định các đảo, quần đảo thuộc chủ quyền Việt Nam là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam và nhà nước thực hiện chủ quyền trên các đảo, quần đảo này. Luật Biển Việt Nam quy định đảo thích hợp cho đời sống con người hoặc cho một đời sống kinh tế riêng thì có nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; còn đảo đá không thích hợp cho đời sống con người hoặc cho một đời sống kinh tế riêng thì không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

     Quy định này tương tự như Điều 121 của UNCLOS 1982 và áp dụng chung cho tất cả các đảo, trong đó có các đảo ở quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Đối với các bãi đá san hô ở hai quần đảo này không có điều kiện duy trì cuộc sống con người hoặc không có đời sống kinh tế riêng thì chỉ có lãnh hải 12 hải lý, không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

                                                                                                       Giảng viên:  Bùi Thị Thanh Thủy



Tin khác


Một số đổi mới quan trọng của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Cơ sở pháp lí khẳng định chủ quyền biển đảo Việt Nam

Tìm hiểu về chế độ bảo hiểm thất nghiệp

Giải quyết tranh chấp về chấm dứt hợp đồng lao động do người sử dụng lao động

Bình đẳng giới trong pháp luật Việt Nam

Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người lao động

Công đoàn và vai trò của tổ chức công đoàn trong quan hệ lao động

Ngày Quốc tế Hạnh phúc 20/3/2014

Luật Xử lý vi phạm hành chính - bước phát triển mới trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật VN

ĐỐI TÁC
THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cập: 28


Tuyển sinh