Giải quyết tranh chấp về chấm dứt hợp đồng lao động do người sử dụng lao động
  (Cập nhật: 6/19/2014)

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG

LAO ĐỘNG DO NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG

 

     Tranh chấp chấm dứt hợp đồng lao động thường xảy ra do một số nguyên nhân cơ bản sau: về phía người sử dụng lao động, mục đích lớn nhất của người sử dụng lao động khi tham gia các quan hệ lao động là thu được nhiều lợi nhuận. Để đạt được mục đích này, người sử  dụng lao động nhiều khi đã vi phạm luật lao động gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động. Đây có thể coi là nguyên nhân cơ bản trực tiếp và có ý nghĩa quyết định dẫn đến tranh chấp lao động ở nước ta. Chính vì vậy để tránh trường hợp người sử dụng lao động chấm dứt hợp lao động trái pháp luật với người lao động Bộ Luật lao động quy định quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động được quy định cụ thể tại điều 38 như sau:“ Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

     a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

     b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

     Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

     c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

     d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này”

     Trong một số trường hợp người lao động tạm thời không thực hiện được công việc theo hợp đồng lao động đã ký kết nhưng người sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động được quy định tại Điều 39 như sau:

“Trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

     1. Người lao động ốm đau hoặc bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo quyết định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 của Bộ luật này.

     2. Người lao động đang nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng và những trường hợp nghỉ khác được người sử dụng lao động đồng ý.

     3. Lao động nữ quy định tại khoản 3 Điều 155 của Bộ luật này.

     4. Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.”

     Trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động  không đúng quy định tại Điều 38 và Điều 39 của Bộ luật này là chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

     Khi các bên trong quan hệ lao động cho rằng quyền và lợi ích của mình bị vi phạm bởi người lao động  hoặc người sử dụng lao động thì giữa họ nảy sinh sự bất đồng và nếu họ không tự thương lượng được thì họ có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động để bảo vệ quyền và lợi ích  của mình. Tranh chấp chấm dứt hợp đồng lao động là tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động vì vậy cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân gồm: Hòa giải viên lao động và Tòa án nhân dân.

     Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp sau đây không bắt buộc phải thông qua thủ tục hòa giải được quy định tại khoản 1 Điều 201BLLĐ:

     a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

     b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

     c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

     d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế;

     đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

     Bộ luật Lao động năm 2012 đã bỏ quy định Hội đồng hòa giải cơ sở thay bằng Hòa giải viên lao động là người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể; phân định rõ tranh chấp lao động tập thể bao gồm tranh chấp về pháp lý (quyền) và tranh chấp về lợi ích kinh tế (lợi ích) và không cho phép đình công đối với các tranh chấp lao động tập thể về quyền.

     Về điều kiện khởi kiện vụ án lao động: BLLĐ quy định tranh chấp lao động (trừ các loại việc tranh chấp được quy định tại Khoản 1 Điều 201 BLLĐ 2012, các bên phải đưa việc tranh chấp ra hòa giải. Chỉ trong các trường hợp hòa giải không thành (có biên bản hòa giải không thành), hoặc hòa giải thành nhưng một trong các bên không thực hiện biên bản hòa giải thành, hoặc hết thời hạn quy định mà việc tranh chấp không được đưa ra hòa giải, thì các bên mới có quyền khởi kiện tại Tòa án.

     Quy định về thủ tục hòa giải là bắt buộc, do đó, nếu đương sự khởi kiện vụ tranh chấp lao động mà chưa bảo đảm các điều kiện nói trên, thì Tòa án phải xác định là chưa đủ điều kiện khởi kiện.

                                                                                                                                                                           Giảng viên: Nguyễn Thị Vui



Tin khác


Một số đổi mới quan trọng của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Cơ sở pháp lí khẳng định chủ quyền biển đảo Việt Nam

Tìm hiểu về chế độ bảo hiểm thất nghiệp

Giải quyết tranh chấp về chấm dứt hợp đồng lao động do người sử dụng lao động

Bình đẳng giới trong pháp luật Việt Nam

Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người lao động

Công đoàn và vai trò của tổ chức công đoàn trong quan hệ lao động

Ngày Quốc tế Hạnh phúc 20/3/2014

Luật Xử lý vi phạm hành chính - bước phát triển mới trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật VN

ĐỐI TÁC
THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cập: 16


Tuyển sinh